Sốt là tình trạng thường gặp ở trẻ em. Có nhiều triệu chứng đi kèm với sốt. Trong đó, triệu chứng sốt kèm lạnh người, run rẩy, vã mồ hôi, hay sốt lạnh run người ở trẻ em khá phổ biến, xảy ra khi cơ thể kích hoạt cơ chế điều hòa thân nhiệt tự nhiên.
Sốt là tình trạng thường gặp ở trẻ em. Có nhiều triệu chứng đi kèm với sốt. Trong đó, triệu chứng sốt kèm lạnh người, run rẩy, vã mồ hôi, hay sốt lạnh run người ở trẻ em khá phổ biến, xảy ra khi cơ thể kích hoạt cơ chế điều hòa thân nhiệt tự nhiên.

Dù vậy, nếu không được theo dõi và xử trí đúng cách, trẻ sốt rét run kéo dài có thể đối mặt với triệu chứng nguy hiểm như mất nước, co giật, hôn mê… Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu những nguyên nhân thường gặp khiến trẻ bị sốt lạnh run người, cách xử trí an toàn và đúng cách ngay tại nhà, cũng như các “dấu hiệu đỏ” cảnh báo cần đưa trẻ đi cấp cứu.
Khi cơ thể trẻ bị nhiễm vi khuẩn, virus hoặc tác nhân gây bệnh khác, hệ miễn dịch sẽ kích hoạt nhiều phản ứng bảo vệ, trong đó có việc tăng “điểm đặt” nhiệt độ tại vùng hạ đồi (hypothalamus) – trung tâm điều hòa thân nhiệt ở não. Bình thường, nhiệt độ cơ thể duy trì quanh 37°C, nhưng khi nhiễm bệnh, điểm đặt có thể tăng lên 38–39°C hoặc hơn.
Khi nhiệt độ thực tế của cơ thể thấp hơn điểm đặt mới, trẻ sẽ cảm thấy lạnh và run rẩy. Đây là quá trình co và giãn cơ nhanh liên tục, giúp sinh nhiệt để cơ thể đạt mức nhiệt “mục tiêu” mới. Cảm giác ớn lạnh lúc này là phản xạ sinh lý, không phải do môi trường lạnh và sẽ giảm khi thân nhiệt đạt điểm đặt.
Bố mẹ có thể nhận biết trẻ sốt lạnh run người qua các triệu chứng sau:

Sốt lạnh run người ở trẻ em thường do nhiễm trùng gây ra. Mức độ và tính chất của cơn lạnh run có thể khác nhau tùy thuộc vào nguyên nhân cụ thể.
1. Nhiễm siêu vi (virus)
2. Nhiễm khuẩn (vi khuẩn)
3. Sốt rét (ở vùng lưu hành)
4. Bệnh tự miễn
Ở trẻ em, sốt kèm lạnh run và co giật do sốt đều có thể xảy ra khi thân nhiệt tăng cao, nhưng bản chất và đặc điểm rất khác nhau.
Sốt lạnh run người:
Co giật do sốt:

Khi trẻ bị sốt kèm lạnh run, cha mẹ cần bình tĩnh và xử trí đúng cách để giúp trẻ bớt khó chịu, hạn chế biến chứng:
Nhiều phụ huynh khi thấy con sốt kèm rét run thường áp dụng một số cách dân gian hoặc thói quen sai lầm, khiến tình trạng trẻ không cải thiện, thậm chí nặng hơn:
Cha mẹ nên đưa trẻ đến bệnh viện ngay khi có sốt lạnh run người kèm bất kỳ dấu hiệu nào sau đây:

Điều trị sốt lạnh run người ở trẻ em được thực hiện theo các nguyên tắc chính:
Trẻ được theo dõi sát nhiệt độ, mạch, nhịp thở và các dấu hiệu cảnh báo để kịp thời can thiệp.
Ibuprofen có thể dùng thay paracetamol để hạ sốt nếu trẻ không bị chống chỉ định. Liều thường là 10 mg/kg mỗi 6–8 giờ. Tuy nhiên, không dùng nếu nghi ngờ trẻ bị sốt xuất huyết, rối loạn đông máu, bệnh lý thận, viêm loét dạ dày – tá tràng… Paracetamol thường an toàn hơn và là lựa chọn đầu tiên. Nếu trẻ không đáp ứng với paracetamol, bác sĩ có thể cân nhắc đổi sang hoặc phối hợp xen kẽ với ibuprofen. Luôn tham khảo ý kiến y tế trước khi đổi thuốc.
Khi trẻ sốt lạnh run, lau người bằng nước ấm an toàn và hiệu quả hơn nước mát. Nước ấm giúp giãn mạch, tỏa nhiệt tự nhiên mà không gây co mạch đột ngột. Nếu lau nước mát hoặc chườm đá, trẻ có thể run nhiều hơn, khó chịu và nhiệt độ bên trong cơ thể còn tăng thêm.
Bố mẹ nên lau ở những vùng giúp thoát nhiệt tốt như trán, nách, bẹn. Ngừng lau khi nhiệt độ xuống dưới 38°C. Với trẻ sơ sinh, cần đặc biệt thận trọng để tránh hạ thân nhiệt.
Cơn lạnh run ngắn 1–2 phút thường là phản ứng bình thường khi cơ thể đang nâng nhiệt độ mục tiêu bên trong để chống lại tác nhân gây bệnh. Nếu trẻ vẫn tỉnh táo, không co giật, không khó thở, nguy cơ nguy hiểm thường thấp.
Tuy nhiên, sốt lạnh run người ở trẻ em có thể là dấu hiệu sớm của bệnh nhiễm trùng nguy hiểm như viêm phổi, sốt rét, viêm màng não… nên vẫn cần theo dõi sát. Nếu trẻ sốt ≥ 40°C, li bì, tím tái, khó thở hoặc nổi ban xuất huyết thì cần phải đưa đến bệnh viện ngay.
Nếu nhiệt độ đo được dưới 38°C thì chưa cần uống thuốc hạ sốt. Lúc này, cơ thể trẻ chỉ mới bắt đầu nâng nhiệt độ bên trong lên mức mục tiêu, nên cảm giác lạnh run xuất hiện dù chưa sốt cao.
Lúc này, bố mẹ nên giữ ấm cho trẻ bằng chăn mỏng, cho trẻ uống nhiều nước và theo dõi nhiệt độ thường xuyên. Khi nhiệt độ vượt quá 38,5 °C hoặc trẻ có biểu hiện khó chịu rõ rệt, bạn mới nên cho trẻ uống thuốc hạ sốt theo liều lượng được khuyến cáo.
Miếng dán hạ sốt không có tác dụng giảm run ở trẻ. Miếng dán chỉ giúp hạ nhiệt độ cục bộ tại vùng da được dán. Tác dụng hạ sốt toàn thân của miếng dán rất hạn chế và chỉ có tính hỗ trợ, không thể thay thế được thuốc hạ sốt. Khi trẻ bị run rét, nhiệt độ cơ thể đang tăng cao, việc dán miếng dán lạnh có thể khiến trẻ khó chịu hơn và làm các mạch máu co lại, gây cản trở quá trình thoát nhiệt.
Sốt lạnh run người ở trẻ em thường là phản ứng khi cơ thể tăng nhiệt để chống lại tác nhân gây bệnh, phổ biến nhất là do nhiễm virus hoặc vi khuẩn. Nếu được xử trí đúng cách, trẻ sẽ hạ sốt an toàn, giảm khó chịu và tránh được các biến chứng nguy hiểm. Cha mẹ cần nhận biết sớm các dấu hiệu cảnh báo, đảm bảo trẻ được hạ sốt đúng liều, bù dịch – điện giải đầy đủ và theo dõi sát diễn biến. Trong trường hợp trẻ thuộc nhóm nguy cơ hoặc xuất hiện các triệu chứng “đỏ”, việc đưa trẻ đến cơ sở y tế kịp thời sẽ giúp được chẩn đoán nguyên nhân và điều trị đặc hiệu, nâng cao hiệu quả hồi phục.
Miễn trừ trách nhiệm
Các bài viết của Hello Bacsi chỉ có tính chất tham khảo, không thay thế cho việc chẩn đoán hoặc điều trị y khoa.
Sốt ở trẻ em
https://benhviennhi.org.vn/files/202503251327-PHAC%20DO%20NOI%20TRU%202016%20.pdf
Ngày truy cập: 12/08/2025
Febrile seizures
https://my.clevelandclinic.org/health/diseases/febrile-seizure
Ngày truy cập: 12/08/2025
Chăm sóc trẻ sốt như thế nào?
https://nhidong.org.vn/cac-benh-thuong-gap/cham-soc-tre-sot-nhu-the-nao-c57-2368.aspx
Ngày truy cập: 12/08/2025
Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh sốt rét
https://bvbnd.vn/huong-dan-chan-doan-va-dieu-tri-benh-sot-ret/
Ngày truy cập: 12/08/2025
Hướng dẫn cách hạ sốt thông thường
https://tudu.com.vn/vn/y-hoc-thuong-thuc/suc-khoe-phu-nu/lam-me-an-toan/cham-soc-tre-so-sinh/huong-dan-cach-ha-sot-thong-thuong/
Ngày truy cập: 12/08/2025
Phiên bản hiện tại
28/08/2025
Tác giả: Dung Nguyễn
Tham vấn y khoa: Bác sĩ CKI Nguyễn Đinh Hồng Phúc
Cập nhật bởi: Trương Phương Đài